CÁC TƯƠNG TÁC ĐÁNG CHÚ Ý CỦA RƯỢU (ALCOHOL) -  THUỐC
Nguồn: Pharmacist’s Letter/Prescriber’s Letter, December 2015
Link gốc: https://drive.google.com/file/d/0B_4penUNSSvpNnVMZzNibW5QbW8/view?usp=sharing
Nội dung tóm tắt:
Rượu có thể tương tác với một số thuốc/nhóm thuốc thông qua các cơ chế dược động học và dược lực học.
Một số ví dụ về tương tác dược động học như: acetaminophen (làm tăng nồng độ chất chuyển hóa độc tính NAPQ thông qua enzym CYP2E1), doxycyclin (giảm nồng độ doxycyclin ở bệnh nhân dùng rượu với lượng lớn, dài ngày)
Một số ví dụ về tương tác dược lực học: do tác dụng hiệp đồng trên thần kinh trung ương như: thuốc kháng histamin thế hệ 1, thuốc an thần – gây ngủ, thuốc chống loạn thần, thuốc hạ huyết áp; hay tác dụng ức chế tân tạo đường của alcohol dẫn tới nguy cơ hạ đường huyết khi dùng cùng với thuốc điều trị đái tháo đường như sulfonyl ure, insulin.

Bài đầy đủ:
Có hai loại tương tác thuốc – rượu chủ yếu: dược động học và dược lực học.
Tương tác dược động học xảy ra khi rượu làm thay đổi chuyển hóa hoặc bài xuất của thuốc hoặc ngược lại.
Tương tác dược lực học chỉ tác dụng hiệp đồng/cộng của rượu với một số thuốc, đặc biệt tác dụng hiệp đồng lên hệ thần kinh trung ương (như an thần). Rượu chủ yếu chuyển hóa ở gan nhờ một số enzym. Enzym quan trọng nhất là enzym aldehyd dehydrogenase và CYP2E1. Trên các bệnh nhân thi thoảng uống rượu, CYP2E1 chỉ chuyển hóa được một lượng nhỏ rượu. Ngược lại, ở các bệnh nhân thường xuyên uống nhiều rượu, hoạt động của CYP2E1 có thể tăng lên tới 10 lần, dẫn tới tăng tỉ lệ rượu được chuyển hóa bởi CYP2E1 so với bởi rượu dehydrogenase. Vì vậy, ảnh hưởng của rượu tới thuốc tương tác có thể khác biệt giữa các bệnh nhân thường xuyên uống rượu và thi thoảng uống rượu.
Rượu cũng có thể làm tăng nguy cơ độc tính trên gan của một vài thuốc.
Chống chỉ định dùng rượu với một số dạng bào chế giải phóng kéo dài (ví dụ một số opioid, như Opana ER ở Mỹ), do nguy cơ giải phóng ồ ạt thuốc từ dạng bào chế hoặc tăng sinh khả dụng của thuốc, tiềm tàng nguy cơ quá liều. Nhiều dạng bào chế giải phóng kéo dài cũng cảnh báo về việc sử dụng cùng rượu, như Ritalin LA, Gralise,...Nói chung, cần tư vấn cho các bệnh nhân đang dùng các dạng thuốc giải phóng kéo dài về nguy cơ tiềm tàng khi sử dụng dùng rượu.
Bên cạnh đó, cũng cần nhắc bệnh nhân một số thuốc không kê đơn (như syro ho, thuốc nhuận tràng...) cũng có thể chứa tới 10% rượu.
Cũng cần lưu ý rằng người cao tuổi có nguy cơ cao hơn chịu ảnh hưởng của tương tác rượu-thuốc, do chuyển hóa rượu có thể chậm hơn ở người cao tuổi; đồng thời bản thân rượu có thể làm tăng nguy cơ ngã ở người cao tuổi.
Bảng dưới đây tổng hợp một số tương tác rượu-thuốc và một số khuyến cáo về dùng rượu. Lưu ý rằng khuyến cáo không mang tính chất kết luận và cần phải tham khảo các tờ nhãn thuốc khi đưa ra khuyến cáo.
Một số từ viết tắt: CNS = hệ thần kinh trung ương, GI = hệ tiêu hóa, MAOIs = thuốc ức chế enzym MAO, NSAIDs = thuốc chống viêm không steroid, PDE-5 = enzym phosphodiesterase-5, TCAs = thuốc chống trầm cảm 3 vòng, Chronic alcohol use = Sử dụng rượu dài ngày, Acute alcohol use = Sử dụng ngắn ngày
Thuốc/nhóm thuốc Cơ chế và hậu quả Khuyến cáo, bàn luận
Thuốc giảm đau (không opioid)
Acetaminophen Sử dụng dài ngày (chronic use) có thể làm giảm nồng độ acetaminiphen trong máu và  tăng nồng độ chất chuyển hóa của acetaminophen: N-acetyl-p-benzoquinoneimin (NAPQ) - chất chuyển hóa độc gan
Cơ chế thông qua CYP2E1
Có thể làm tăng nguy cơ bệnh thận mặc dù nguyên nhân chưa rõ
Sử dụng rượu không thường xuyên với lượng lớn có thể tăng nguy cơ độc tính gan với cơ chế tương tự như khi sử dụng ngắn ngày.
Tờ nhãn thuốc tại Anh chỉ ra tổn thương gan nghiêm trọng có thể xảy ra ở người lớn sử dụng > 3 cốc rượu/ngày khi đang dùng acetaminophen
Thuốc chống trầm cảm
Bupropion Bupropion có thể làm giảm dung nạp rượu
Cả việc dùng rượu ngắn ngày (acute use) và ngưng đột ngột dùng rượu đều có thể làm tăng nguy cơ động kinh
Bupropion có thể làm giảm ngưỡng co giật
Khuyên bệnh nhân giảm thiểu hoặc tránh dùng rượu cùng bupropion
MAOIs Tyramin – có trong một số loại bia và rượu, tương tác với thuốc ức chế MAO, dẫn tới tăng huyết áp nặng
Sử dụng rượu và MAOIs có thể có tác dụng cộng trên thần kinh trung ương
Khuyên bệnh nhân tránh dùng rượu cùng MAOIs
Thông thường, cần giới hạn trong chế độ ăn sau khi ngưng MAOIs ít nhất 2 tuần
TCAs Rượu có thể làm tăng tác dụng an thần của thuốc chống trầm cảm ba vòng, tăng nồng độ trong máu (ví dụ: amitriptylin) và nguy cơ hạ huyết áp Xem xét sử dụng SNRIs hoặc SSRIs thay thế  cho TCAs trên các bệnh nhân đang dùng rượu, vì nguy cơ tương tác với các thuốc này thấp hơn
Hiện tượng tăng ức chế hệ thần kinh trung ương khi dùng cùng rượu có thể xảy ra với tỉ lệ cao hơn ở tuần đầu của liệu pháp TCA
Thuốc điều trị đái tháo đường: Rượu ức chế tân tạo glucose và có thể dẫn tới tăng nguy cơ hạ đường huyết. Tuy nhiên, lượng calo do dùng rượu cũng có thể tăng nguy cơ khó kiểm soát đường huyết
Sulfonylurea Rượu có thể gây phản ứng tương tự disulfiram (disulfiram-like reaction) ở các bệnh nhân đang dùng: clopropramid, glyburit, tolazamid, tolbutamid Khuyên bệnh nhân đang dùng sulfonylure không nên dùng rượu với lượng lớn, và tuyệt đối không dùng rượu khi đang đói hoặc khi có triệu chứng hạ đường huyết xảy ra sau khi dùng rượu.
Insulins Uống rượu có thể dẫn tới tác dụng phụ nghiệm trọng và không dự đoán được của insulin trên đường huyết. Cơ chế liên quan đến ảnh hưởng của rượu tới tân tạo glucose. Khuyên bệnh nhân cần tránh dùng rượu với lượng lớn khi đang dùng insulin và tránh dùng rượu khi dạ dày rỗng
Metformin Sử dụng đồng thời rượu và metformin có thể gây nôn và yếu
Uống rượu có thể dẫn tới tăng nồng độ acid lactic máu khi sử dụng dùng metformin
Khuyên bệnh nhân cần tránh dùng rượu với lượng lớn khi đang dùng metformin, cả kể sử dụng ngắn ngày hay dài ngày. Cần theo dõi dấu hiệu và triệu chứng của hội chứng nhiễm toan lactic (đau cơ, đau dạ dày, nhịp tim chậm, chóng mặt) nếu dùng rượu
Thuốc động kinh: Uống rượu trong giao thiệp xã hội với mức độ trung bình có khả năng ít tương tác ý nghĩa trong phần lớn trường hợp, mặc dù có thể có tác dụng hiệp đồng/cộng an thần
Phenytoin Dùng rượu ngắn ngày có thể làm tăng nồng độ phenytoin, trong đó sử dụng rượu dài ngày có thể làm giảm nồng độ phenytoin Khuyên bệnh nhân về những ảnh hưởng có thể của rượu và phenytoin
Thuốc kháng histamin: tăng buồn ngủ nếu sử dụng phối hợp, có thể ảnh hưởng nghiêm trọng tới khả năng lái xe, đặc biệt khi dùng thuốc kháng histamin có tác dụng an thần
Thuốc kháng histamin thế hệ I Rượu có thể làm tăng tác dụng an thần và buồn ngủ liên quan đến thuốc kháng histamin thế hệ 1, đặc biệt trên người cao tuổi, do tác dụng cộng/hiệp đồng trên thần kinh trung ương Khuyên bệnh nhân tránh dùng rượu khi đang dùng thuốc kháng histamin thế hệ 1. Xem xét cân nhắc khuyến cáo dùng thuốc kháng histamin không an thần thay cho thuốc kháng histamin thế hệ 1. Tuy nhiên vẫn phải cảnh báo bệnh nhân về nguy cơ tương tác, do đáp ứng có thể khác nhau giữa các bệnh nhân
Thuốc điều trị tăng huyết áp: Dùng rượu mức độ vừa – nhiều ( > 2 cốc/ngày) có thể làm tăng huyết áp. Bên cạnh đó, dùng rượu cấp có thể dẫn tới hạ áp và có tác dụng cộng trên giãn mạch
Thuốc chẹn anpha-1 Ngay sau khi uống, rượu có thể làm tăng nguy cơ hạ huyết áp tư thế đứng khi dùng thuốc chẹn anpha Khuyên bệnh nhân về nguy cơ có thể xảy ra khi sử dụng rượu cùng thuốc chẹn anpha
Thuốc chẹn beta Rượu có thể làm tăng tác dụng hạ huyết áp của các thuốc chẹn beta Khuyên bệnh nhân về nguy cơ có thể xảy ra khi sử dụng rượu cùng thuốc chẹn beta
Thuốc chẹn kênh calci Ngay sau khi uống, rượu có thể làm tăng nguy cơ hạ huyết áp tư thế đứng của các thuốc chẹn kênh calci
Sử dụng dài ngày verapamil có thể làm tăng nồng độ rượu trong máu và giảm tốc độ chuyển hóa của rượu
Rượu có thể làm tăng nồng độ nifedipin trong máu
Khuyên bệnh nhân về nguy cơ có thể xảy ra khi sử dụng rượu cùng thuốc chẹn kênh calci
Kháng sinh
Doxycyclin Sử dụng rượu với lượng lớn dài ngày có thể dẫn tới nồng độ doxycyclin dưới khoảng điều trị, do cơ chế làm tăng chuyển hóa Xem xét gấp đôi liều doxycyclin trên các bệnh nhân nghiện rượu hoặc thay một thuốc khác không có tương tác với rượu
Chú ý rằng dùng đồng thời ethanol và tetracyclin có thể làm tăng nhẹ nồng độ tetracyclin
Isoniazid Sử dụng rượu với lượng lớn hoặc sử dụng thường xuyên (ví dụ: hàng ngày) có thể làm tăng nguy cơ độc tính trên gan của isoniazid và tăng thanh thải isoniazid Khuyên bệnh nhân tránh dùng rượu khi đang dùng isoniazid
Griseofulvin Griseofulvin có thể làm tăng tác dụng của rượu, như nôn, buồn nôn, nhịp tim nhanh, hạ huyết áp nghiêm trọng Khuyên bệnh nhân tránh dùng rượu khi đang dùng griseofulvin
Ketoconazol Rượu có thể làm tăng nguy cơ phản ứng tương tự disulfiram (disulfiram-like reaction) khi dùng ketoconazol đường uống Khuyên bệnh nhân tránh dùng rượu khi đang dùng ketoconazol
Metronidazol Rượu có thể làm tăng nguy cơ phản ứng tương tự disulfiram của metronidazol. Nguy cơ này cũng gia tăng ngay cả với metronidazol đường âm đạo, vì metronidazol vẫn được hấp thu một lượng nhỏ vào toàn thân. Nguy cơ có thể thấp, tuy nhiên nên khuyên bệnh nhân tránh dùng alcohl khi đang dùng metronidazol và trong vòng 72 giờ sau khi ngừng metronidazol
Tinidazol Rượu có thể tăng nguy cơ phản ứng tương tự disulfiram của tinidazol. Nguy cơ có thể thấp, tuy nhiên nên khuyên bệnh nhân tránh dùng rượu khi đang dùng tinidazol và trong vòng 72 giờ sau khi ngừng tinidazol
Thuốc chống loạn thần
Loại không điển hình Sử dụng đồng thời rượu và thuốc chống loạn thần không điển hình có thể dẫn tới tác dụng cộng trên thần kinh trung ương và hạ huyết áp tư thế đứng, đặc biệt với olanzapin và quetiapin Khuyên bệnh nhân tránh dùng rượu khi đang dùng thuốc chống loạn thần
Phenothiazin Sử dụng đồng thời rượu và các phenothiazin có thể dẫn tới tăng nguy cơ tác dụng an thần
Có thể làm tăng nguy cơ các tác dụng phụ ngoại tháp
Khuyên bệnh nhân tránh dùng rượu khi đang dùng thuốc chống loạn thần
Thuốc giãn cơ: Sử dụng đồng thời thuốc giãn cơ với rượu (dù chỉ là lượng nhỏ) có thể dẫn tới tác dụng cộng ức chế thần kinh trung ương
Thuốc an thần – gây ngủ
Barbiturat Sử dụng đồng thời barbiturat và rượu (dù lượng nhỏ) có thể dẫn tới tác dụng cộng trên thần kinh trung ương Cảnh báo bệnh nhân về nguy cơ, như tăng tác dụng an thần, ảnh hưởng tới các kĩ năng tâm thần - vận động, nguy cơ vẫn còn tác dụng phụ gây nôn nao ở ngày tiếp theo do tương tác vẫn tiếp diên
Benzodiazepin Sử dụng đồng thời benzodiazepin và rượu có thể dẫn tới tác dụng cộng trên thần kinh trung ương. Tác dụng này đặc biệt nhấn mạnh với các benzodiazepin tác dụng kéo dài hoặc khi sử dụng lượng rượu lớn
Dùng rượu ngắn ngày có thẻ làm tăng nồng độ một số benzodiazepin trong máu (như diazepam, triazolam) do làm tăng hấp thu
Cảnh báo bệnh nhân về nguy cơ, như tăng tác dụng an thần, ảnh hưởng tới các kĩ năng tâm thần - vận động. Xem xét khuyên bệnh nhân tránh sử dụng đồng thời.
Các thuốc an thần không phải dẫn chất benzodiazepin Sử dụng đồng thời có thể dẫn tới tác dụng cộng trên thần kinh trung ương và nguy cơ của các hành vi như: ngủ gât khi lái xe.... Khuyến bệnh nhân tránh sử dụng phối hợp. Bên cạnh tương tác, rượu cũng có liên quan đến mất ngủ.
Cloral hydrat Sử dụng đồng thời có thể dẫn tới tác dụng cộng trên thần kinh trung ương, bên cạnh việc giảm chuyển hóa của cả rượu và cloral hydrat Khuyên bệnh nhân nếu dùng, cần dùng rượu (lượng lớn) cách xa cloral hydrat ít nhất 12 – 24 giờ
Meprobamat Meprobamat có thể làm tăng độc tính liên quan đến rượu
Sử dụng rượu dài ngày có thể làm tăng chuyển hóa meprobamat
Khuyên bệnh nhân tránh uống rượu khi đang dùng meprobamat
Statins:
Nghiện rượu có thể làm tăng nguy cơ tác dụng phụ liên quan statin
Metoclopramid: Sử dụng đồng thờì có thể dẫn tới tác dụng cộng trên thần kinh trung ương
Metoclopramid có thể làm tăng nồng độ rượu trong máu, do tăng rỗng dạ dày
Xem xét khuyên bệnh nhân tránh uống rượu khi đang dùng metoclopramid